Giai thoại về nơi yên nghỉ của Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông

(Dân trí) - Ngôi mộ của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác nằm ở chân núi Minh Tự, xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Nơi yên nghỉ của vị Đại danh y này gắn với câu chuyện ông thả diều. Khu lăng mộ cùng tượng đài của Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác nằm ở xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Đây là địa danh, di tích quan trọng và có ý nghĩa đặc biệt tại địa phương này. Lê Hữu Trác tên thật Lê Hữu Huân, sinh ngày 12 tháng 11 năm Giáp Thìn 1724, là con thứ bảy trong một gia đình đại trí thức ở làng Liêu Xá, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Ông lấy hiệu Hải Thượng Lãn Ông. Hải Thượng là hai chữ đầu của tỉnh Hải Dương và phủ Thượng Hồng quê cha, cũng là xứ Bàu Thượng quê mẹ. Lãn Ông nghĩa là "ông lười", ngụ ý lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, quyền thế, tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng mà mình yêu thích. Thuở nhỏ, Lê Hữu Trác theo cha ăn học ở Kinh thành Thăng Long, sớm nổi tiếng với tư chất thông minh, am tường cả nho, y, lý, số,… Sống giữa thời buổi nhiễu nhương, loạn lạc, năm 26 tuổi, ông quyết định từ bỏ chốn quan trường về quê ngoại ở làng Bàu Thượng, xã Tĩnh Diệm (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh) phụng dưỡng mẹ già. Hơn 40 năm náu thân ở chốn thâm sơn cùng cốc, "Ông già lười" vẫn miệt mài tìm kiếm, khảo cứu, ươm trồng các loại cây thuốc bản địa, làm thơ, dạy học, viết sách, chữa bệnh cứu người,… Lê Hữu Trác nhiều lần được triều đình mời về Kinh. Song mỗi lần như thế, ông đều gắng xong bổn phận rồi lại trở về quê ngoại Hương Sơn - nơi ông không màng đến công danh phú quý. Thay vào đó, thiên nhiên, con người, trí tuệ và đức cần cù, dân dã… hun đúc ông trở thành một Đại danh y, danh nhân văn hóa của đất nước. Lê Hữu Trác mất ngày 15 tháng Giêng năm Tân Hợi 1791, thọ 67 tuổi và được an táng ở chân núi Minh Tự, bên sông Ngàn Phố. Ngôi mộ vị Đại danh y nằm trên một triền dốc thoai thoải, được thiết kế theo hình dáng của một ngôi nhà truyền thống. Vùng đất quê ngoại của vị Đại danh y lưu truyền câu chuyện rằng, sinh thời, ông thường thả diều trên các đỉnh núi gần nhà. Trước khi mất, ông dặn dò mọi người diều rơi ở đâu thì mai táng ông ở đó. Đó là vị trí lăng mộ Lê Hữu Trác bây giờ. Nơi đây trước mặt có dòng sông Ngàn Phố, phong cảnh sơn thủy hữu tình, bốn mùa "thông reo, gió hát". Ngoài mộ phần, trụ biểu, trong khuôn viên khu lăng mộ còn xây dựng nhiều công trình khác như nhà tiền tế, nhà bia khắc ghi tiểu sử, sự nghiệp và y đức của vị Đại danh y. Từ vị trí lăng mộ, vượt qua hơn 260 bậc thang lên đỉnh núi cao là khu tượng đài. Công trình này nằm lọt thỏm giữa rừng cây xanh. Tượng đài Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác được dựng với hơn 1.600 tấn đá cẩm thạch. Nơi đây có dòng chữ "Đức Lưu Quang" được khắc trên tảng đá nguyên khối nặng hơn 17 tấn. Phía sau tượng đài có 3 bức phù điêu khắc ghi những lời răn dạy của Đại danh y. Lê Hữu Trác để lại cho đời một tấm gương sáng về y đức, y lý, y thuật. Ông có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam, trong đó có thuốc Nam khi kế thừa xuất sắc sự nghiệp "Nam dược trị Nam nhân" của Tuệ Tĩnh thiền sư. Tác phẩm "Hải Thượng y tông tâm lĩnh" (28 tập, 66 quyển) của ông được đánh giá là công trình y học xuất sắc nhất trong thời Trung đại Việt Nam. Bên cạnh đó, các cuốn như "Lĩnh Nam bản thảo", "Thượng kinh ký sự" của ông không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học. Từ năm 2000, Bộ Y tế chính thức lấy ngày Rằm tháng Giêng (ngày mất của Đại danh y Lê Hữu Trác) làm Ngày truyền thống Y Dược cổ truyền Việt Nam.